Tin Mới





















Vai trò của phụ nữ ngành Giáo dục trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Bộ GD&ĐT vừa ban hành Công văn số 667/BGDĐT-TCCB ngày 24/02/2021 về báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới theo Quyết định số 4996/QĐ-BGDĐT ngày 20/10/2016 của Bộ GD&ĐT. Bài viết đưa ra một số giải pháp để nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, thực hiện thành công các mục tiêu trong kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành giáo dục giai đoạn 2016-2020.

Ảnh minh họa

Maxim Gorki – nhà văn vô sản vĩ đại của nước Nga – Xô Viết đã từng viết: “Không có mặt trời thì hoa không nở, không có tình yêu thì không có hạnh phúc, không có đàn bà thì không có tình yêu, không có người mẹ thì cả nhà thơ và anh hùng đều không có”. Từ xưa đến nay, người phụ nữ luôn giữ một vị trí quan trọng trong xã hội. Họ được coi là nguồn hạnh phúc, là “một nửa của thế giới”. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay, vị trí, vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng định và đề cao. Họ tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, trong đó không thể không nói đến vai trò của phụ nữ ngành Giáo dục trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay.

Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi có hơn 40 dân tộc anh em cùng sinh sống. Bình Phước có nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, kém phát triển, trình độ dân trí còn thấp. Thế nhưng, được sự quan tâm, đầu tư, sự chỉ đạo sâu sát của Bộ GD&ĐT, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước ngày càng ổn định và ngày càng phát triển với nhiều kết quả đáng tự hào.

Những năm gần đây, Bình Phước được biết đến bởi chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục mũi nhọn luôn đứng đầu cả nước. Trong kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa cấp quốc gia, cấp khu vực phía Nam, Bình Phước luôn đạt nhiều giải cao. Trong các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng những năm trước, học sinh Bình Phước, đặc biệt là học sinh ở hai trường: THPT chuyên Quang Trung và THPT chuyên Bình Long luôn đứng top đầu các trường THPT cả nước. Ngoài ra, hằng năm trường đều có từ 5-7 em đậu thủ khoa các trường đại học danh tiếng. Đặc biệt, Bình Phước luôn có học sinh được tham gia dự thi và đạt giải trong các kỳ thi khu vực và quốc tế….Chất lượng giáo dục đại trà cũng ngày càng được nâng cao. Cơ sở vật chất ngày càng khang trang và ngày càng được đầu tư theo hướng hiện đại hóa, từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới. Hiện toàn tỉnh có 417 trường học các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông (gồm: 153 trường mầm non; 122 trường Tiểu học; 107 trường THCS; 35 trường THPT) và 01 Trung tâm GDTX tỉnh. Công tác huy động học sinh ra lớp đạt hiệu quả cao, số học sinh trong toàn ngành ngày càng tăng. Hiện toàn tỉnh có 49.364 trẻ/1.700 nhóm/lớp mầm non; 102.808 học sinh tiểu học; 70.737 học sinh THCS; 30.780 học sinh THPT…Đặc biệt, tỉnh Bình Phước vừa được Bộ GD&ĐT kiểm tra và công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3.

Những kết quả trên là niềm tự hào của đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà. Có được những kết quả trên, ngoài sự quan tâm, đầu tư, sự chỉ đạo sâu sát của Bộ GD&ĐT, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân còn do sự đóng góp của đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành. Có thể nói, đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành Giáo dục đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, góp phần thực hiện thành công các chỉ tiêu trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước là ngành có số lượng lớn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nữ. Đặc trưng hoạt động của ngành phù hợp với lao động nữ, yếu tố phẩm chất của giới cũng phù hợp với loại hình lao động của ngành. Cùng với đặc điểm đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành đã góp phần vào sự thành công của sự nghiệp giáo dục đào tạo tỉnh Bình Phước trong những năm qua. Trong quá trình công tác, chị em nữ đã thể hiện được trình độ, bản lĩnh, khả năng quản lý tốt, hoạt động hiệu quả cao. Có nhiều tấm gương là cán bộ nữ tiêu biểu cho tinh thần vượt khó, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong công tác giảng dạy, trong việc nuôi con ngoan, dạy trò giỏi. Có thể nói, trong điều kiện sống hiện nay, phụ nữ ngành giáo dục gặp nhiều khó khăn hơn nam giới, vì họ phải vừa dạy học-mang sứ mệnh làm thầy, vừa làm công tác quản lý, vừa làm mẹ-chăm sóc, nuôi dạy con cái, có khi còn phải làm trụ cột trong mỗi gia đình…nhưng họ đã vượt qua tất cả mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trở thành những tấm gương tiêu biểu, góp phần không nhỏ vào việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà. Đặc biệt, có nhiều nữ cán bộ công tác trong ngành giáo dục đã phấn đấu, rèn luyện trở thành những lãnh đạo chủ chốt của tỉnh…

Theo thống kê, năm học 2020-2021, khối trực thuộc Sở có 2.310 giáo viên trực tiếp đứng lớp, trong đó có 1.397 nữ, tỷ lệ 60,5%; khối các phòng GD&ĐT có 12.114 giáo viên trực tiếp đứng lớp, trong đó có 9.712 nữ, tỷ lệ 80,17%; cá biệt có đơn vị đặc thù, tỷ lệ nữ giáo viên chiếm 90-100% (bậc học mầm non). 100% nữ CBQL-GV có trình độ đạt chuẩn trở lên.

 Trong những năm qua, Sở GD&ĐT đã làm tốt công tác quy hoạch, bố trí cán bộ nữ vào các vị trí lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Tổng số nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở cơ quan Sở GD&ĐT là: 2/14, tỷ lệ: 14,29%; các đơn vị trực thuộc là 17/115, tỷ lệ: 14,78%; khối phòng GD&ĐT: 968/633, tỷ lệ: 65,39%. Tỷ lệ Đảng viên nữ ở cơ quan Sở GD&ĐT: 13/44, tỷ lệ 29,5%; các đơn vị trực thuộc Sở là: 1.129/2.638, tỷ lệ 42,8%; khối phòng GD&ĐT là: 5.827/14.719, tỷ lệ: 39,6%.

Trong những năm gần đây, cơ quan Sở GD&ĐT và các đơn vị trực thuộc Sở không để xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực học đường. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa được đẩy mạnh. Ban VSTBPN phối hợp với Ban Nữ công Công đoàn ngành đã khen thưởng cho 02 tập thể và 06 cán bộ, giáo viên nữ đạt danh hiệu: “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” giai đoạn 2016-2020; 06 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” trong năm học 2019-2020; 02 cá nhân được Công đoàn Giáo dục Việt Nam tặng Giấy chứng nhận “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” qua đó, kịp thời động viên, khuyến khích, biểu dương các tập thể nữ công và nữ giáo viên làm tốt vai trò của người vợ, người mẹ, vừa công tác tốt vừa xây dựng hạnh phúc gia đình.

Do những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, nhiều nữ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên trong ngành đã được vinh danh, được tặng thưởng những danh hiệu cao quý. Tính đến thời hiện tại, có 19/23 nữ giáo viên được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú; 4/7 nữ được phong tặng Huân chương lao động hạng Ba; 97/164 nữ được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Hàng trăm nữ giáo viên được Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh tặng Bằng khen, công nhận chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh…Đây là những tín hiệu đáng mừng cho công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trong ngành Giáo dục và Đào tạo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ cũng như việc phát huy vai trò của phụ nữ ngành Giáo dục còn có những bất cập như, nhiều nữ cán bộ vừa giảng dạy, vừa làm công tác quản lý, vừa phải chăm lo cho đời sống gia đình, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Đặc biệt, ở ngành học mầm non, 100% là giáo viên nữ, cường độ công việc rất lớn, yêu cầu thời gian quá nhiều, mức lương lại thấp, không đủ đảm bảo cuộc sống, không có thời gian để chăm sóc gia đình, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Bên cạnh đó, do đa số giáo viên nữ mới ra trường, thường nằm trong độ tuổi sinh đẻ, Bình Phước lại là tỉnh miền núi, có nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, điều kiện kinh tế-xã hội còn gặp nhiều khó khăn, là tỉnh vẫn chưa có trường đại học nên giáo viên không có điều kiện để tiếp tục học lên vì vậy dẫn đến tỷ lệ nữ thạc sĩ, tiến sĩ còn thấp. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy vai trò của phụ nữ ngành Giáo dục trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung.

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước đang tiếp tục thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, đòi hỏi phải phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức nữ, đặc biệt là cần nâng cao hiệu quả công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trong ngành giáo dục và đào tạo cũng như vị trí, vai trò của phụ nữ trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Một trong những giải pháp để nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đó là:

Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và triển khai thực hiện trong toàn ngành giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh, phụ huynh về ý nghĩa của công tác này; thực hiện và chấp hành pháp luật nói chung, trong đó có Luật Bình đẳng giới. Qua đó, ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng bạo lực trên cơ sở giới, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái trong toàn ngành; giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Đồng thời thường xuyên kiện toàn Ban VSTBPN, phát huy hiệu quả của Ban. Thường xuyên tham gia, tổ chức các lớp tập huấn tuyên truyền về bình đẳng giới, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác VSTBPN, tạo điều kiện để các Ban VSTBPN các cấp giao lưu, học hỏi lẫn nhau.

Thứ hai, tham mưu, phối hợp làm tốt công tác tuyển dụng giáo viên nữ; tham mưu ban hành cơ chế hợp lý để khuyến khích tuyển dụng các sinh viên nữ mới tốt nghiệp cao đẳng, đại học ngành sư phạm có nguyện vọng và khả năng làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời tạo điều kiện cho họ có cơ hội làm việc, tiếp tục nghiên cứu khoa học…ngay sau khi tốt nghiệp. Rà soát lại các quy định pháp luật về hợp đồng lao động để giảm thiểu sự thiệt thòi cho trí thức nữ trẻ mới làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Ưu tiên công tác quy hoạch, bố trí cán bộ nữ vào các vị trí lãnh đạo như tham gia quản lý chuyên môn, tham gia lãnh đạo cấp ủy và đoàn thể, tham gia công tác trong hệ thống chính trị các cấp của tỉnh bảo đảm đúng quy trình, khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch, đảm bảo tỷ lệ theo quy định của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện tối đa để cán bộ nữ có nhiều thời gian toàn tâm, toàn ý cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, có cơ hội được phát triển, khẳng định vai trò, năng lực của mình trong công tác, đặc biệt, tạo mọi điều kiện cho tất cả nữ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, kỹ năng làm việc cũng như các hoạt động xã hội khác để hoàn thành tốt công tác được giao, góp phần vào sự phát triển chung của ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh nhà.

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện các hoạt động thiết thực, hiệu quả hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các nhà trường, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận với các chính sách về giáo dục, y tế, phát triển sản xuất…Qua đó giúp phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trên các lĩnh vực đời sống, xã hội, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, cống hiến cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Thứ năm, tham mưu, thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách cho nữ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các nhà trường như: tuổi lao động của nữ, tuổi nghỉ hưu, tuổi quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ nữ phù hợp hơn; bổ sung thêm các chế độ, chính sách hỗ trợ nữ cán bộ lãnh đạo quản lý học tập, nâng cao trình độ mọi mặt.

Thứ sáu, cần quán triệt, đảm bảo các vấn đề về giới, bình đẳng giới được lồng ghép trong quá trình biên soạn tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bình Phước; phải có sự tham gia của nữ giới, đảm bảo sự cân bằng trong thành phần các Ban xây dựng chương trình, thẩm định chương trình, biên soạn sách giáo khoa, thẩm định sách giáo khoa. Các nội dung, hình ảnh phải được thiết kế và trình bày đảm bảo sự cân bằng giới.

Thứ bảy, hằng năm, khi xây dựng các chương trình, kế hoạch về giáo dục và đào tạo, phải chú trọng, quan tâm đến việc lồng ghép các vấn đề về bình đẳng giới, đặc biệt là việc xây dựng cơ sở dữ liệu có tách biệt theo giới tính, độ tuổi, dân tộc ở các cấp học, bậc học ở địa phương. Sở GD&ĐT đang nghiên cứu, đề xuất, xây dựng hệ thống dữ liệu của ngành (quản lý cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên), có tách biệt rõ ràng theo giới tính, cụ thể và đầy đủ hơn để phục vụ cho công tác báo cáo cũng như công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược về công tác bình đẳng giới hàng năm và giai đoạn.

Tóm lại, thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trong ngành giáo dục và đào tạo sẽ góp phần phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Minh Nguyên