Tin Mới





















Thực hiện quy định về quyền trong hoạt động thanh tra của ngành giáo dục
Quyền trong hoạt động thanh tra là quyền lực nhà nước được pháp luật quy định cho phép các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra và những cá nhân có thẩm quyền sử dụng trong quá trình thanh tra, nhằm đảm bảo cho người ra quyết định thanh tra, Đoàn thanh tra, hoàn thành các nhiệm vụ được giao

                Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái. Ảnh Quốc hội 

Thanh tra ngành giáo dục (bao gồm cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành) là một lĩnh vực của hoạt động thanh tra nói chung. Vì vậy, việc thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra giáo dục cũng được thực hiện theo các quyền trong hoạt động thanh tra. Quyền trong hoạt động thanh tra được quy định trong Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản quy phạm pháp luật sau: Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra đã quy định về hệ thống các quyền trong hoạt động thanh tra; Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ về quy định về tổ chức hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra và các văn bản và hướng dẫn liên quan khác.

Theo quy định của pháp luật, trong hoạt động thanh tra giáo dục được thực hiện 4 nhóm quyền sau: quyền yêu cầu; quyền quyết định; quyền kiến nghị; quyền kết luận về nội dung thanh tra.

Thứ nhất là quyền yêu cầu: Trong quá trình thanh tra, khi xét thấy cần thiết chủ thể thanh tra được thực hiện quyền đỏi hỏi, yêu cầu đối với đối tượng thanh tra và cơ quan tổ chức, cá nhân liên nội dung thanh tra. Các quyền gồm: Yêu cầu đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra xuất trình giấy phép, đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề; yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật; yêu cầu tổ chức tín dụng phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra; trưng cầu giám định về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra (nếu cần).

          Thứ hai là quyền quyết định: Trong quá trình thanh tra, để đảm bảo cuộc thanh tra được tiến hành thuận lợi và đạt kết quả tốt, trong trường hợp cụ thể chủ thể thanh tra được quyền quyết định buộc đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan phải thi hành. Các quyền quyết định gồm: quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra; quyết định kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra; quyết định tạm đình chỉ việc làm của đối tượng thanh tra; quyết định xử phạt vi phạm hành chính; quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của đối tượng thanh tra; quyết định đình chỉ, thay đổi đối tượng thanh tra; quyết định xử lý theo thẩm quyền kết quả thanh tra.

Thứ 3 là quyền kiến nghị: Trong quá trình thanh tra, chủ thể thanh tra có quyền kiến nghị sau: kiến nghị đình chỉ việc làm của đối tượng thanh tra; kiến nghị tạm đình chỉ việc thi hành quyết định của đối tượng thanh tra; kiến nghị tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức, viên chức; kiến nghị xử lý kết quả thanh tra; kiến nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra.

Thứ 4 là quyền kết luận về nội dung thanh tra: Quyền kết luận về nội dung thanh tra là một trong những quyền cơ bản, quan trọng của người ra quyết định thanh tra. Nó phản ánh tính khách quan của một cuộc thanh tra và sự đánh giá, nhận xét, kết luận về một cuộc thanh tra; qua đó đưa ra các giải pháp xử lý hợp lý đối với đôi tượng thanh tra và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung thanh tra.

Trên thực tế, để thực hiện tốt các quyền trong hoạt động thanh tra phụ thuộc vào 3 yếu tố sau: chủ thể thanh tra (người ra quyết định thanh tra; trưởng đoàn thanh tra; thành viên đoàn thanh tra); sự phối hợp của đối tượng thanh tra và sự phối hợp của các cơ quan chức năng và các tổ chức, cá nhân liên quan.

 

Ninh Thuý